Mô hình tàu ngầm cảm tử của Nhật Bản trong Thế chiến II

Một tàu ngầm lớp Kairyu trong bảo tàng Nhật Bản. Ảnh: Wikipedia .

Trong vài tháng cuối của Thế chiến thứ hai, hải quân bị thiệt hại nặng nề, và Nhật Bản cố gắng tìm cách ngăn chặn một cuộc xâm lược quy mô lớn của Đồng minh. Theo Popular Mechanics, kế hoạch đóng hàng trăm tàu ​​ngầm cảm tử cỡ nhỏ được đề xuất để đánh chìm tàu ​​chiến và phương tiện của đối phương trước khi chúng đến bờ biển Nhật Bản. Năm 1945, Hoa Kỳ áp dụng chiến lược “nhảy qua đảo” để đẩy lùi quân Nhật. Trước nguy cơ thất bại từ Hawaii vào đất liền, Tokyo đã áp dụng chiến thuật không kích liều chết mang tên “Kamikaze” trước khi phát triển “Dự án Rồng bay” để thực hiện các vụ đánh bom liều chết dưới nước.

Mỗi tàu săn ngầm K-Dragon dài 17m, rộng 1,2m, lượng choán nước 19 tấn, thủy thủ đoàn 2 người. Nó có tầm hoạt động 725 km, tốc độ 10 km / h khi nổi, và hành trình liên tục 61 km với tốc độ 5,5 km / h khi lặn.

Tàu Kairyu được trang bị hai thân tàu phóng ngư lôi và khối thuốc nổ ở mũi. Giống như các phi công của Kamikaze, thủy thủ đoàn của tàu ngầm Yu sẵn sàng liều mạng để hoàn thành nhiệm vụ.

Theo dự kiến, tàu ngầm Kaiyu sẽ tiến hành một cuộc tấn công, đánh chìm tàu ​​chiến của Đồng minh khi nó tiếp cận mặt đất. Chúng sẽ ẩn nấp dưới đáy biển, rồi bất ngờ xuất hiện giữa đội hình và ngư lôi của đối phương, từ đó ngăn cản các tàu vận tải đưa quân và thiết bị cho chiến dịch đổ bộ. Sau khi phóng ngư lôi, tàu ngầm Nhật Bản sẽ lao tới mục tiêu khác để kích hoạt cung tên, từ đó gây sát thương tối đa cho đối phương.

Tuy nhiên, quân đội Mỹ sau đó đã quyết định ném bom hạt nhân vào Nhật Bản thay vì tiến hành các chiến dịch đổ bộ để hạn chế tổn thất. Nhật Bản đầu hàng trước khi hạm đội tàu ngầm Kairyu đi vào hoạt động. Sau chiến tranh, quân Đồng minh đã tịch thu các tàu ngầm này để phục vụ mục đích nghiên cứu, nhưng chưa có quốc gia nào chế tạo được mẫu vũ khí tương tự.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *